Ngày trước, các ấn phẩm in truyện Kiều (đoạn trường tân thanh) của Nguyễn Du, mở đầu thường có hai bài tựa:
- Bài thứ nhất của Tiên Phong Mộng Liên Đường chủ nhân (1820)
- Bài thứ hai của Phong Tuyết chủ nhân Thập thanh thị (1828)
Cùng bài thơ chữ Hán (đề từ - thi vân) của Lương Đường Phạm Lập Trai (Phạm Quý Thích)
Về bài "tựa thứ nhất" của Mộng Liên Đường, viết vào năm 1820, đây là năm Canh thìn, Vua Gia Long băng hà, Vua Minh Mệnh nối ngôi - đồng thời cũng là năm Đại thi hào Nguyễn Du lâm bệnh qua đời ở kinh đô Huế trong một nạn dịch bệnh đương thời làm chết hàng vạn người. Nói theo kiểu cổ nhân: Mộng Liên Đường đề "tựa" Đoạn trường tân thanh mà Nguyễn Du viết vào khoảng năm 1814 sau khi đi sứ nhà Thanh về...
Nghĩa là truyện Kiều đã trình làng được 6 năm, tác giả của nó cũng vừa qua đời; người viết có đủ điều kiện và xúc động ở thời điểm vừa "cái quan định luận" để đề "tựa". Bài viết ngắn gọn, xúc tích dài chưa đầy hai trang giấy mà có nhiều câu người đời sau dẫn đi dẫn lại. Mở đầu bài "tựa", Mộng Liên Đường lý giải rất khéo về hai chữ "đoạn trường" : "trong trời đất đã có người tài tình tuyệt thế, tất thế nào cũng có việc khảm kha bất bình.Tài mà không được gặp gỡ, tình mà không được hả hê, đó là cái căn nguyên của hai chữ đoạn trường vậy".
Sau khi nói về cái lý do mà Tố Như tử đem truyện Thúy Kiều chép trong Lục Phong Tình rồi "dụng tâm đã khổ, tự sự đã khéo, tả tình đã hệt, đàm tình đã thiết, nếu không phải có con mắt trông thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời thì tài nào có cái bút lực ấy?...
Ta lấy một thiên mực nhạt, xa viếng nàng Kiều, tuy lời văn quê kệch, không đủ sánh với bức giao thiên, song đủ tỏ ra rằng cái nợ sầu của hai chữ tài tình, tuy khác đời mà chung một dạng. May được nối ở đằng sau quyển "Tân thanh" của Tố Như tử, cũng là một khúc đoạn trường để than khóc người xưa."
Tháng hai, niên hiệu Minh Mạng (1820)
viết ở Thán hoa hiên đất Hạc Giang
TIÊN PHONG
Mộng Liên Đường chủ nhân
Tiên Phong và Mộng Liên Đường (đình) là tên hiệu của Quan chức - nhà văn Nguyễn Đăng Tuyển(1795-1880) hậu duệ Trạng Bịu (Nguyễn Đăng Đạo 1651- 1719) quê ở thôn Thượng (tên nôm là làng Bịu Thượng) xã Hoài Bão, huyện Tiên Du, Tỉnh Bắc Ninh.
- Nguyễn Đăng Đạo, đỗ Trạng Nguyên năm 33 tuổi, niên hiệu Chính Hòa, đời Vua Lê Hy Tông 1683. Năm 1687 ông được cử đi sứ sang Tàu vào chầu Vua Khang Hy nhà Thanh.
Do đối đáp, thi thố văn tài với sứ thần các nước, có các bài đệ lên ngự lãm, được Vua Khang Hy (một vị Vua nổi tiếng hay chữ) phê cho Trạng Bịu: "Bắc Triều đệ nhất Trạng Nguyên". Theo sử sách: ông là người trung thực, thương dân, làm tới chức Tham Tụng(Tể Tướng). Ông mất năm Vĩnh Thịnh thứ 15 - vua Lê Dụ Tông phong tặng Lại Bộ thượng thư, Thọ quận công, ban cho bốn chữ "Lưỡng Quốc Trạng Nguyên" và một đôi câu đối:
Tiến sĩ, thượng thư, thiên hạ hữu
Trạng Nguyên, tể tướng, thế gian vô.
- Ông nội của Mộng Liên Đường là Nguyễn Đăng Vỹ, đỗ tiến sỹ năm Bảo Thái (1720 - 1729) đời Lê, làm quan tới hàm Thiếu Bảo, tước Kế Thiện hầu .
- Cha Mộng Liên Đường là Nguyễn Đăng Chiểu đỗ hương cống(cử nhân) làm quan đến Hồng Lô tự khanh. Cuối đời Lê loạn lạc ông đưa vợ con lánh lên xứ Đoài, làm nhà thuộc huyện Tiên Phong, trấn Sơn Tây. Thời Lê huyện lỵ Tiên Phong đóng ở xã La Phẩm(nay thuộc huyện Ba Vì - Hà Nội).
- Nguyễn Đăng Tuyển từng đỗ Tú Tài được bổ làm giám sinh ở Quốc Tử Giám. Năm Minh Mệnh thứ 17(1836) được bổ làm tri huyện Vị Xuyên(Tuyên Quang) sau chuyên về Kinh làm chủ sự ở Bộ Hộ rồi được thăng Thừa Chỉ, Thị Độc. Ông là người "vì văn học mà được Vua biết đến" thường được Vua Tự Đức cho ngồi bên cạnh dự các kỳ thi do Vua chủ trì, ông đã soạn các quyển"Đào hoa mộng ký", "Nam thị quốc phong", dâng Vua xem, được tán thưởng, chuyển làm trước tác rồi được sung chức Biên Tu Quốc Sử Quán. Năm 1856, ông được bổ Tri Phủ Thuận Thành(Bắc Ninh) rồi xin hưu trí. Tuy đã về hưu,ông vẫn được
Vua cho người về thăm hỏi, lại sai làm Vịnh sử ca.Vào dịp Vua 50 tuổi(ngũ tuần đại khánh) , ông dâng thơ tụng, được ban thưởng, vài năm sau thì mất, thọ 86 tuổi.
Nguyễn Đăng Tuyển - một cây bút tài hoa, ông lưu danh cùng Tố Như tử với tên hiệu "Tiên Phong Mộng Liên Đường chủ nhân" (bài tựa) được dịch in trong sách "Truyện Thúy Kiều" do Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim hiệu khảo, in năm 1925 và tái bản nhiều lần.Nay đọc lại lời bình sâu sắc của ông"xem đến chỗ giấc mộng đoạn trường tỉnh dậy mà căn nguyên vẫn gỡ chưa rồi; khúc đàn bạc mệnh ấy gẩy xong mà oán hận vẫn chưa hả, thì dẫu đời xa người khuất không được mục kích tận nơi, nhưng lời văn tả ra hình như máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm ở trên tờ giấy, khiến ai đọc đến cũng phải thấm thía ngậm ngùi, đau đớn như đứt ruột. Thế thì gọi tên"đoạn trường tân thanh" cũng phải."
Nay đã qua 189 năm, đọc lại bài tựa truyện Kiều của Mộng Liên Đường, kẻ hậu sinh (NK này) vướng duyên hàn mặc(bút mực) vẫn thấy văn chương của bậc tiền bối như nước chảy mây trôi, sâu đậm tình người truyền lại cho con cháu cái tài, cái tình theo cánh Rồng bay lên quả là hứng khởi biết chừng nào?
Góc thành nam Hà Nội, 2-9-2009
NGUYỄN KHÔI cẩn bút.
Tham khảo bài tựa Truyện Kiều của Mộng Liên Đường và Tổng vịnh truyện Kiều của Trúc Vân Chu Mạnh Trinh:
Tựa Truyện Kiều
Trong trời đất đã có người tài tình tuyệt thế, tất thế nào cũng có việc khảm kha bất bình. Tài mà không được gặp gỡ, tình mà không được hả hê, đó là căn nguyên của hai chữ đoạn trường vậy. Thế là lại có kẻ thương tiếc tài tình, xem thấy việc, trông thấy người, thì còn nhìn thế nào được mà không thở than rền rĩ.
Nghĩa là bậc thánh mới quên được tình, bậc ngu không hiểu tới tình. Tình chung chú vào đâu, chính là chung chú vào bọn chúng ta vậy. Cho nên phàm người đã ít tình, tất là không có tài, chỉ nửa loà nửa sáng, sống chết trong vòng áo mũ, trong cuộc no say, dù có gặp cái cảnh thanh nhã như hoa thơm buổi sáng, trăng tỏ ban đêm, cũng chỉ trơ trơ như cây cỏ, như cá chim vậy.
Còn đến bậc tuyệt thế tài tình, mặt ngọc vẻ hoa, lòng gấm miệng vóc, ngâm thơ liễu nhứ, nổi tiếng đài gương, vịnh phú ngô đồng, khoe tài án bút, nếu một bậc quán tuyệt thiên thu như thế lại gặp được bậc chân chính tài nhân, kết duyên tác hợp, khi thơ ngâm hoa nở, khi đàn gảy trăng lên, nguồn ái ân trọn nghĩa trăm năm, truyện phong lưu chép thành một lục, người đương vào cảnh ấy đã không gặp phải nỗi khảm kha bất bình, thì người truyền lại việc ấy còn phải đặt ra truyện Đoạn trường tân thanh làm gì?
Chỉ vì dịp may dễ lỡ, việc tốt thường sai, tiếng hoàn lặng ngắt, còn trơ bóng trúc lung lay; mặt ngọc vắng tênh, chỉ thấy hoa đào hớn hở. Có tài mà không gặp được tài, có tình mà không hả được tình; tài tình đã tuyệt thế, gặp toàn bước khảm kha, há không phải là con Tạo đang tay ách người quá lắm ru? Ấy chính là truyện Đoạn trường tân thanh vì đấy mà làm ra vậy.
Truyện Thuý Kiều chép ở trong lục Phong tình, ta không bàn làm gì. Lục Phong tình cũng đã cũ rồi. Tố Như tử xem truyện, thấy việc lạ, lại thương tiếc đến những nỗi trắc trở của kẻ có tài, bèn đem dịch ra quốc âm, đề là Đoạn trường tân thanh, thành ra cái lục Phong tình vẫn là cái lục cũ, mà cái tiếng Đoạn trường lại là cái tiếng mới vậy.
Trong một tập thì chung lấy bốn chữ "Tạo vật đố tài" tóm cả một đời Thuý Kiều: khi lai láng tình thơ, người tựa án khen tài châu ngọc; khi nỉ non tiếng nguyệt, khách dưới đèn đắm khúc tiêu tao; khi duyên ưa kim cải, non bể thề bồi; khi đất nổi ba đào, cửa nhà tan tác; khi lầu xanh, khi rừng tía, cõi đi về nghĩ cũng chồn chân; khi kinh kệ, khi can qua, mùi từng trải nghĩ càng tê lưỡi. Vui, buồn, tan, hợp, mười mấy năm trời trong cuốn văn tả như hệt, không khác gì một bức tranh vậy.
Xem chỗ giấc mộng đoạn trường tỉnh dậy mà căn duyên vẫn gỡ chưa rồi; khúc đàn bạc mệnh gảy xong, mà oán hận vẫn còn chưa hả, thì dẫu đời xa người khuất, không được mục kích tận nơi, nhưng lời văn tả ra hình như máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm ở trên tờ giấy, khiến ai đọc đến cũng phải thấm thía ngậm ngùi, đau đớn như đứt ruột, thế thì gọi tên là Đoạn trường tân thanh cũng phải.
Ta lúc nhàn đọc hết cả một lượt, mới lấy làm lạ rằng: "Tố Như tử dụng tâm đã khổ, tự sự đã khéo, tả cảnh đã hệt, đàm tình đã thiết, nếu không phải có con mắt trông thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời, thì tài nào có cái bút lực ấy". Bèn vui mà viết bài tựa này.
Thuý Kiều khóc Đạm Tiên, Tố Như tử làm truyện Thúy Kiều, việc tuy khác nhau mà lòng thì là một: người đời xưa thương người đời trước, người đời nay thương người đời xưa, hai chữ tài tình thực là một cái thông luỵ của bọn tài tử khắp trong gầm trời này vậy.
Ta lấy một thiên mực nhạt, xa viếng nàng Kiều, tuy lời văn quê kệch, không đủ sánh với bức giao thiên, song đủ tỏ cái nợ sầu của hai chữ đa tình, tuy khác đời mà chung một dạ. May được nối ở sau cuốn Tân thanh của Tố Như tử, cùng làm một khúc Đoạn trường để than khóc người xưa.
Tháng hai, niên hiệu Minh Mạng
viết ở Thán Hoa hiên đất Hạc Giang
Tiên phong Mộng Liên đường chủ nhân
---------------------------------------
Tổng vịnh Truyện Kiều
Trúc Vân Chu Mạnh Trinh
Giả sử ngay khi trước, Liêu Dương cách trở, duyên chàng Kim đừng lỡ việc ma chay; quan lại công bằng, án viên ngoại tỏ ngay tình oan uổng. Thì đâu đến nỗi son phấn mấy năm lưu lạc, đem thân cho thiên hạ mua cười; mà chắc biên thuỳ một cõi nghênh ngang, ai xui được anh hùng cởi giáp. Thì sao còn tỏ được người thục nữ mà đủ đường hiếu nghĩa, tay đàn bà mà lại có cơ quyền. Thế mới biết: người khôn thì hay gặp gian truân, chuyện đời khéo lắm trò quanh quẩn.
Con tạo hoá vốn thương yêu tài sắc, nàng đà biết thế hay chưa. Khách má hồng đừng giận nỗi trăng già, ta cũng khuyên lời phải chẳng. Chỉ vì một tội mối manh chưa có, thề thốt đã nhiều, trăng gió mắc vào, phồn hoa dính mãi.
Cũng có người bảo: tại nước chảy mây trôi lỡ bước, nên cành đưa lá đón quen thân. Nào biết đâu bông hạnh nở ngoài tường chưa để con ong qua tới; cho có muốn lưỡi dao liều với mạng, lại e thành cháy vạ lây. Tấm lòng này như tuyết như gương, mối sầu nọ qua ngày qua tháng. Ngọc kia không vết, giá liên thành khôn xiết so bì. Nước đã trôi xuôi, hồn cựu mộng hãy còn vơ vẩn.
Bàn cho thật phải, tình cũng nên thương. Lại xem như bút mực tài hoa, đoạn trường mười khúc; trúc tơ phong nhã, hồ cầm một chương; câu thần vẳng vọng tiêu tao, bóng ngọc tưởng chiều não nuột; hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh, vậy nên khách đa tình say chuyện phong lưu, trăm năm cũ còn ghi tên tuổi hảo; người chép sách tiếc vì tài sắc, nghìn thu sau nhặt lấy phấn hương thừa.
Than ôi, một bước phong trần, mấy phen chìm nổi; trời tình mờ mịt, bể hận mênh mang. Sợi tơ mành theo gió đưa đi, cánh hoa rụng chọn gì đất sạch. Ai dư nước mắt khóc người đời xưa, thế mà giống đa tình luống những sầu chung, hạt lệ Tầm Dương chan chứa; lòng cảm cựu ai xui thương mướn, nghe câu ngọc thụ não nùng.
Cho hay danh sĩ giai nhân, cùng một kiếp hoa nghiêm nặng nợ. Ngán nỗi non xanh đất đỏ, để riêng ai luân lạc đau lòng. Ta cũng nòi tình, thương người đồng điệu. Cái kiếp không hoa lẩm cẩm, con hồn xuân mộng bâng khuâng. Đã toan đúc sẵn nhà vàng chờ người quốc sắc, lại muốn mượn chùm phương thảo hú vía thuyền quyên.
Sẵn bút nghiên chia vịnh từng hồi, đem sự tích tóm làm một tựa. Bây giờ kể còn dài chưa hết, hạt ba tiêu như thánh thót mưa thu. Hỡi ơi, hồn còn có biết hay chăng? Bóng hoàn bội tưởng ra vào Lạc phố.
Dịch giả: Đoàn Tư Thuật
Nguyễn Đình Triển @ 12:23 25/10/2009
Số lượt xem: 4399
Các ý kiến mới nhất