Thuận Thành Quê tôi

Liên kết website

HÁT CHÈO

Lời hay ý đẹp

""

Me nu thư viện

Đồng hồ

Liên kết website

Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

Xem ngày tốt xấu

Clip Bài hát hay

Điểm tin hàng ngày

Liên kết online

Thành viên trực tuyến

0 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Chào mừng quý vị đến với Website HỒN VIỆT.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > Trang văn học > Thơ Đường-Đại Việt cổ thi >

    NGUYỄN KHUYẾN

    Nguyễn Khuyến 
    (1835-1909)



    Nguyễn Khuyến (阮勸) tên thật là Nguyễn Văn Thắng, hiệu Quế Sơn, tự Miễn Chi, sinh ngày 15 tháng 2 năm 1835 tại quê ngoại - làng Văn Khê, xã Hoàng Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Hà. 

    Quê nội của cụ ở làng Và, xã Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Nam Hà. 

    Cha là Nguyễn Tông Khởi (1796-1853), thường gọi cụ Mền Khởi, đỗ ba khóa tú tài, dạy học. 

    Mẹ là Trần Thị Thoan (1799-1874), con cụ Trần Công Trạc, từng đỗ sinh đồ (tú tài) thời Lê Mạt. 

    Thuở nhỏ, ông cùng Trần Bích San (người làng Vị Xuyên, đỗ Tam Nguyên năm 1864-1865) là bạn học ở trường cụ Hoàng Giáp Phạm Văn Nghị. Năm 1864, Nguyễn Khuyến đỗ đầu cử nhân (tức Hương Nguyên) trường Hà Nội. Năm sau ông trượt thi Hội, thi Đình nên phẫn chí ở lại kinh đô học trường Quốc Tử Giám. Đến năm 1871, ông mới đỗ Hội Nguyên và Đình Nguyên. Từ đó Nguyễn Khuyến thường được gọi là Tam Nguyên Yên Đổ

    Năm 1873, ông được bổ làm Đốc Học, rồi thăng Án Sát tỉnh Thanh Hóa. Năm 1877, ông thăng Bố Chính tỉnh Quảng Ngãi. Sang năm sau, ông bị giáng chức và điều về Huế, giữ một chức quan nhỏ với nhiệm vụ toản tu Quốc Sử Quán. 

    Nguyễn Khuyến cáo quan về Yên Đổ vào mùa thu 1884 và qua đời tại đấy ngày 5 tháng 2 năm 1909. 
    Ông để lại các tập thơ văn Quế Sơn thi tập, Yên Đổ thi tập, Bách Liêu thi văn tập, Cẩm Ngữ và nhiều bài ca, hát ả đào, văn tế, câu đối... truyền miệng. 

    Nguyễn Khuyến có biệt tài về thơ văn chữ Nôm. Ông viết nhiều, bao gồm nhiều thể loại khác nhau. Ông thích tự vịnh, tự trào, phong cách thường ung dung, phóng khoáng, nhuốm đậm tư tưởng Lão Trang và triết lý Đông Phương. Một số lớn thơ văn ông cũng có khuynh hướng trào phúng, giễu cợt thế thái nhân tình và những thói hư tật xấu của người đời.

    Văn thơ của thi sĩ rất giản dị, không dùng những điển tích, lời văn nhẹ nhàng thanh thoát và rất tế nhị . Lời thơ của ông có một đặc điểm là không cầu kỳ, luôn luôn phảng phất một màu sắc thuần tuý Việt Nam, giữ được trọn vẹn dân tộc tính của nó.

    Những thơ văn của Nguyễn Khuyến, một phần lớn được sáng tác trong thời kỳ ẩn dật . Do đó, văn nôm của ông có thể chia ra làm 5 loại khác nhau:

    1. Tình cảm:

    Là một nhà nho, chịu ảnh hưởng của thuyết Tu, Tề, ông rất tha thiết với cảnh gia đình . Ta hãy nghe ông bỡn cợt trong bài "Nhất Vợ Nhì Trời":

    Khôn đến mẹ mày là có một,
    Khéo như con tạo cũng là hai .
    Trời dẫu yêu nhưng vì có phận
    Vợ mà vụng dại đếch ăn ai .


    2. Tình yêu thiên nhiên:
    Ngao ngán về thờ cuộc, ông thích cảnh đồng ruộng, thiên nhiên, ngắm tạo vật để khuây khỏa nổi lòng . Bằng những nét phác họa đơn sơ nhưng linh động, ông đã cấu tạo thành những bài thơ với một kỹ thuật vững thế quân bình giữ trí năng và tình cảm, thêm vào đó một nhận xét tinh vi.

    "Ao thu lạnh lẽ nước trong veo
    Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo"

    (Thu điếu)

    3. Yêu đời sống bình dân:

    Sống hơn 20 năm giữa đám bình dân, Nguyễn Khuyến đã nhiễm một phần tư tưởng và tánh tình của những người này. Do đó, ông hoà hợp đời sống của mình vào đời sống của những con người chất phác, vui cái vui của họ, lo cái lo của họ.

    4. Tính chất trào phúng:

    Ông hay chỉ trích những cái dở, cái xấu của người đời. Hạng người bị ông chỉ trích là những tham quan ô lại, những người dốt mà thích khoe chữ, những kẻ tham tiền quên điều sỉ nhục. Trong những lời thơ tự trào, ông cũng đã nghiêm khắc với chính mình, đem những tật xấu nhỏ của mình mà chế giễu. Chấm biếm những người tham tiền, trong cuộc lễ quốc khánh của Pháp, bày ra trò mua vui làm nhục quốc thể:

    "Cậy sức cây du nhiều chị nhún,
    Tham tiền cột mỡ lắm anh leo ."


    hay

    "Bà quan tênh nghếch xem bơi trải
    Thằng bé lom khom nghé hát chèo."


    Nguyền rủa những kẻ mang tiếng là "phụ mẫu chi dân" nhưng không lo việc ích nước lợi dân, chỉ lo đục khoét dân. Dưới đây là 4 câu thơ ông viết tặng một ông Đốc học hay ăn hối lộ:

    "Ai bảo ông dại với ông điên,
    Ông dại sao ông biết lấy tiền .
    Cậy cái bảng vàng treo nhị giáp,
    Nẹt thẳng mặt trắng lấy Tam nguyên "


    5. Lòng yêu nước thiết tha:

    Dù với tấm lòng yêu nước tiêu cực, chủ trương bất hợp tác với Pháp, chối từ địa vị cao sang mà tân triều đã sẵn sàng mời mọc, Tam Nguyên Yên Đỗ đã chứng tỏ được tiết tháo của nhà Nho . Trước cảnh quốc phá gia vong, là người thâm nho, học cao hiểu rộng, lẽ đâu Nguyễn Khuyến chẳng nhớ câu "Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách" nhưng một mình không làm sao xoay nổ một thế cờ, ông đành ngậm ngùi, bó tay trước tình thế . Qua những bài "Tiếng Cuốc Đêm Hè" "Ông Phỗng Đá" ta còn thấy lòng yêu nước của thi sĩ qua những cảnh vật thiên nhiên của xứ sở, qua những làng mạc, thôn xóm của đất nước thân yêu.

    "Khắc khoải sầu đưa giọng lửng lơ,
    Ấy hồn Thục đế thác bao giờ ?
    Năm canh máu chảy đêm hè vắng,
    Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ " 

    (Nghe Cuốc Kêu)

    Trước cảnh nước mất nhà tan, nhận thấy mình bất lực, đôi tay yếu mềm của một văn nhân không thể làm gì hơn được là gởi nỗi niềm tâm sự vào lời thơ . Còn đâu nữ lúc đem tài trí ra "an bang tế thế" còn chăng chỉ là hồn Thục đế mất nước hóa thành đỗ quyên để rồi đêm đêm máu hoà nước mắt khóc nỗi hờn vong quốc.

    Trước cảnh giang san nghiêng ngửa, đất nước bị thôn tính, nhân dân ta lúc bấy giờ có khác chi cảnh gà lạc mẹ, bơ vơ trong sự tiến thối lưỡng nan. May ra thì được giữ tròn tiết tháo, bằng không thì thanh danh, sự nghiệp đành chông giữa chống bùn nhơ. Tấm gương kiên trung, lòng thiết tha yêu nước với một bản ngã vững chắc đã giúp thi sĩ chiến thắng oanh liệt trước mọi cám dỗ. Ông đã giữ được thái độ thanh cao phóng khoáng, một tinh thần quốc gia thuần tuý. Ông như một hoa sen sống trong bùn nhưng không nhiểm phải mùi vị tanh hôi.


     
     
    Về Đầu Trang Go down  





    Bài gửiTiêu đề: Re: Nguyễn Khuyến   Mon Nov 21, 2011 8:16 am  

    Thư Mục:

    Phần 1: Thơ chữ Nôm

    Anh giả điếc
    Ăn mày
    Bạn đến chơi nhà
    Bóng đè cô đầu
    Bồ tiên thi
    Cá chép vượt đăng
    Cảm hứng
    Cảnh già
    Cảnh Tết
    Cáo quan về ở nhà
    Chế học trò ngủ gật
    Chế ông đồ Cự Lộc
    Chốn quê
    Chợ Đồng
    Chơi chợ trời Hương Tích
    Chơi núi Non Nước
    Chơi thuyền Hồ Tây
    Chừa rượu
    Cò mổ trai
    Cô tiểu ngủ ngày
    Cua chơi trăng
    Cuốc kêu cảm hứng
    Di chúc
    Duyên nợ
    Đại lão
    Đề tranh tố nữ
    Đêm đông cảm hoài
    Đĩ cầu Nôm
    Gái rửa bờ sông
    Gửi ban tu thư
    Gửi người con gái xóm Đông
    Hoài cổ
    Hoạn Thư ghen
    Hỏi phỗng đá
    Hỏi thăm quan tuần mất cướp
    Hội Tây
    Kẻ trộm mất trộm
    Khai bút
    Khóc Dương Khuê
    Khóc vợ
    Khuyên vợ cả
    Kiều bán mình
    Kiều chơi tết thanh minh
    Kiều khuyên Từ Hải hàng
    Lấy Tây
    Lên lão
    Lời gái góa
    Lời vợ anh phường chèo
    Lụt chèo thuyền đi chơi
    Lụt hỏi thăm bạn
    Mẹ Mốc
    Muốn lấy chồng
    Mừng con dựng được nhà
    Mừng con làm nhà
    Mừng đốc học Hà Nam
    Mừng ông nghè mới đỗ
    Ngày xuân răn con cháu
    Nghe hát đêm khuya
    Nhất vợ nhì giời
    Nhớ cảnh chùa Đọi
    Nước lụt Hà Nam
    Ông phỗng đá
    Phú đắc
    Tạ lại người cho hoa trà
    Tặng bà Hậu Cẩm
    Tặng đốc Hà Nam
    Than già
    Than mùa hạ
    Than nợ
    Thầy đồ mắc lừa gái
    Thầy đồ ve gái góa
    Thơ khuyên học
    Thu ẩm
    Thu điếu
    Thu vịnh
    Thủy tiên
    Tặng học trò đi làm quan cho Tây
    Tổng vịnh Kiều
    Trong nhà (cảnh)
    Trở về vườn cũ
    Trời nói
    Tự thuật
    Tự trào
    Uống rượu ở vườn Bùi
    Văn tế Ngạc Nhi
    Về hay ở
    Về nghỉ nhà
    Vịnh hoa cúc
    Vịnh lụt
    Vịnh mùa hè
    Vịnh núi An Lão
    Vịnh sư
    Vịnh tiến sĩ giấy
    Thơ chữ Nôm: Bổ sung
    Châu chấu đá voi
    Chế bác đồ mắc lừa gái
    Chiều hè đến chơi nhà bác Đặng
    Chỗ lội làng Ngang
    Chơi núi Long Đọi
    Chơi núi Yên Lão
    Chống lụt
    Chúc thọ
    Cối xay
    Con vịt 
    Diễn bài thơ Lý Thái Bạch chơi núi Nam Sơn
    Đưa người làm mối
    Gửi bác Châu Cầu
    Hát ru em
    Hồ Tây
    Hỏa lò đun nước
    Hỏi đá 
    Khuyên người làm lẽ
    Mua quan tài 
    Mục hạ vô nhân
    Mừng ông lão hàng thịt ăn thượng thọ 70 tuổi
    Mừng ông Ngũ Sơn làm Đốc học Hưng Yên 
    Ngẫu hứng 
    Nhân sinh thích chí
    Tặng bạn mở Ty rượu 
    Tặng bạn ra làm quan
    Tặng cô đào Lựu
    Tập Kiều kiên chí
    Than lụt 
    Tiễn biệt 
    Tiễn Quan án Hà Nam 
    Trọc đầu 
    Bài phú ông đồ ngông
    Phần 2: Một số câu đối
    Phần này có thể thay đổi.

    Câu Đối Tết || Dán Cổng || Dán Nhà || Khóc Chồng || Khóc Con || Khóc Chồng và Con || Mừng Cô Tư Hồng || Mừng Đám Cưới || Mừng Ông Tiên Chỉ || Mừng Nhà Mới II Mừng Tân Ấp của Hoàng Cao Khải || Tặng Ông Bảng Long || Tặng Người Quen || Tặng Thầy Lý || Thú Quê || Thờ Bà Trùm || Viếng Bà Thông Gia || Viếng Bố Vợ || Viếng Người Làng || Viếng Người Thợ Rèn ||

    Phần 3: Thơ chữ Hán

    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Đình Triển @ 07:38 17/04/2016
    Số lượt xem: 380
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    XEM TIVI ONILE

    Bảng thử code

    DIỄN ĐÀN VIOLET - VÌ GIÁO VIÊN ĐIỆN TỬ
    TÊN WEBSITE CỦA BẠN

    CÁM ƠN BẠN ĐÃ SỬ DỤNG - CHÚC BẠN HÀI LÒNG !

    Chương trình ứng dụng chính xác cho các loại mã Java Script; HTML. Chúc bạn luôn thành công !