Thuận Thành Quê tôi

Liên kết website

HÁT CHÈO

Lời hay ý đẹp

""

Me nu thư viện

Đồng hồ

Liên kết website

Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

Xem ngày tốt xấu

Clip Bài hát hay

Điểm tin hàng ngày

Liên kết online

Thành viên trực tuyến

0 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Chào mừng quý vị đến với Website HỒN VIỆT.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > Nét xưa - Hồn Việt >

    MẠN ĐÀM VỀ TRÀ

    Trà luôn luôn là tri kỷ của thi gia. Khi sương sớm lúc tàn canh, khi trầm tư ngẫm nghĩ về thế sự, lúc cô đơn đối diện với lẽ tử sinh vô thường, khi thất chí ẩn mình ở chốn quạnh hiu, lúc thanh nhàn vui hưởng thú tiêu dao… Nhấp một ngụm trà, thưởng thức cái phong vị thanh cao thoát tục, nối bước thiền gia, giữ cho tâm linh thư thái, vứt bỏ hẳn tạp niệm, vượt lên những nhỏ nhen đố kỵ tầm thường của đời người, mở lòng với thiên nhiên vạn vật.

    Trong cái nhìn của người Tây phương, trà là một thức uống có từ nghìn xưa, dùng an định tinh thần và rất tốt cho sức khỏe. Nhưng đối với người Á Đông, trà là thế giới tâm linh cao nhã hết sức tinh tế và đậm chất thiền. Từ địa hình nơi trồng với khí núi, gió mưa, nắng tuyết kết thành lộc non lá nõn, cho đến khi pha trà, uống trà đều là một nghệ thuật mà mỗi chặng, mỗi nhịp luôn có một phong vị riêng.

    Cùng một nơi trồng ta có hàng trăm loại trà khác nhau. Trong cùng một vườn trà, trà phía đông bao giờ cũng hơn trà phía tây vì hướng đông nhận tia nắng mặt trời trước, sinh trưởng của cây trà hướng đông khác hẳn cây trà hướng tây. Trên cùng một cây trà, nhưng trà được hái khi những tia nắng đầu tiên của mùa xuân làm tan băng tuyết, làm căng nhựa sống của muôn cây cỏ sau mùa đông dài, bao giờ cũng là loại trà cực phẩm. Trà hái trong cùng một thời điểm lại chia ra nhiều hạng khác nhau tùy theo búp trà: bạch trà (toàn lộc non) hay trà một lá (búp trà và một lá non), hai lá hoặc ba lá…

    Trà thượng hạng phải được hái khi còn sương, khi mặt trời lên sương tan là phải ngừng ngay. Cách hái cũng đòi hỏi một nghệ thuật, ngày trước các thiếu nữ hái trà phải để móng tay dài để ngắt lộc non mà ngón tay do có sức nóng của cơ thể không được chạm vào vì có thể làm thay đổi phẩm chất của trà. Hái trà xong còn phải qua các giai đoạn chế biến, chế biến được trà ngon rồi phải biết cách pha trà, lại còn trà cụ, ấm tách… và cuối cùng là thưởng thức trà.

    Nghệ thuật pha trà, thưởng trà cũng không kém phần hoa dạng, đặc sắc nhất là Thủy đan thanh nổi tiếng của Trung Hoa xưa.

    Lất phất như hoa lượn giữa trời

    Khẽ khàng mặt nước lá trà rơi

    Nghiêng bình nhẹ rót muôn hoa cỏ

    Phượng múa, rồng bay, tứ tuyệt cười (1)

    Thuỷ đan thanh hay còn gọi là Trà bách hí, là một nghệ thuật biểu diễn trà xuất hiện từ thời Ngũ Đại và phát triển mạnh vào thời Sơ Đường. Đào Cốc đời Tống đã mô tả lại trong Thanh Dị lục như sau: "Người ta dùng kẹp trúc khuấy nước trà theo một phương pháp khéo léo để tạo ra nhiều hình ảnh khác nhau, từ cầm thú, chim cá, cho chí hoa cỏ… đều có thể hiện hình qua sóng nước trà". Đây là kết quả của sự tụ tán biến ảo của lá trà trong nước, tuy rằng hình ảnh xuất hiện và biến mất rất nhanh, nhưng giá trị thẩm mỹ của nó thì không thể phủ nhận được. Tiếc rằng nghệ thuật này đến nay đã thất truyền. Cũng theo Đào Cốc, người biểu diễn Thuỷ đan thanh nổi tiếng nhất là một nhà sư hiệu Phúc Toàn thời Tống, có thể rót trà thành câu thơ, rót hết bốn chung trà là thành một bài tứ tuyệt.

      1. Nguồn gốc cây trà

     Trà đã được con người dùng từ rất lâu, nhưng bắt đầu từ thời nào thì vẫn còn là một dấu chấm hỏi. Huyền thoại phổ biến nhất kể lại rằng tổ sư Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma) vì không muốn ngủ quên trong lúc ngồi thiền, đã cắt đứt hai mí mắt của mình vứt xuống đất, chỗ đất đó mọc lên cây trà. Thực tế, tổ sư Đạt Ma đem Thiền tông vào Trung Quốc khoảng cuối thế kỷ V, còn trà thì đã xuất hiện từ trước đó khá lâu. Tuy nhiên, huyền thoại này cho thấy trà có liên quan rất nhiều đến những vị thiền sư, đạo gia, chính họ là người dùng trà đầu tiên và biến trà thành nghệ thuật.

    Truyền thuyết dân gian thì lại cho rằng trà được biết đến từ thời Thần Nông. Theo huyền sử, Thần Nông (2737-2697 T.C.N) là vị thần đã dạy con người trồng trọt, và là một trong ba ông vua đầu tiên của Trung Quốc. Trong chuyến du ngoạn lên vùng trung du, khi vua Thần Nông đang nghỉ trưa dưới một gốc cây thì có vài ngọn lá từ một đám cây lạ bên đường bị gió cuốn, vô tình rơi vào siêu nước đang sôi. Lập tức làn nước chuyển sang màu xanh ngả vàng và một làn hương quyến rũ toả ra lôi cuốn ông. Sau khi nếm thử, cảm giác sảng khoái thanh đạm làm ông rất thích thú. Vốn là một người đam mê dược học, ông đã cho đưa cây về trồng để nghiên cứu. Và cây trà đã được biết đến từ đó.

    Theo triết gia Chu Hi (1130-1200) thì trà đã được nhắc đến trong các cổ thư xuất hiện khoảng từ 1000 đến 500 năm trước Công nguyên, đó là các các tác phẩm: Lễ Ký, Nhĩ Nhã (2) và Kinh Thi. Phần Thảo Mộc Môn trong sách Nhĩ Nhã có nói đến “cây trà”, Lễ Ký mô tả món heo sữa nấu xong rồi được gói với “lá trà”, còn thiên Thất Nguyệt của Kinh Thi thì viết:

    Thất Nguyệt thực qua

    Bát Nguyệt đoạn hồ

    Cửu Nguyệt thúc thư

    Thái đồ tân xư

    Dịch nghĩa:

    Tháng bảy ăn dưa

    Tháng tám cắt bầu

    Tháng chín thu vừng

    Hái “trà” đốt nương

    Tuy nhiên, chữ “trà” trong các cổ thư trên đều viết là “đồ” khác với chữ “trà” ngày nay một nét nhỏ. “Đồ” mà cổ thư đề cập đến là “khổ đồ”, có đặc tính đắng chát (khổ), búp non của cây đồ được lấy để làm thức uống. Loại “khổ đồ” này dân gian vẫn dùng đến ngày nay với cái tên dân dã là “khổ trà” (trà đắng). Thế nhưng, cây đồ lại có tên khoa học là Sonchus Oleraceus, khác xa với cây trà là Camellia Sinensis. Vậy thời đó, “đồ” có phải là “trà” hay không cho đến giờ vẫn chưa thể xác định được.

    Cây trà nguyên thủy được người Anh tìm thấy lần đầu tiên ở vùng Assam cực đông bắc Ấn Độ vào năm 1935. Và vùng biên giới giữa Ấn Độ, Tây Tạng, Miến Điện, Trung Quốc chính là cái nôi thiên nhiên của cây trà. Ngày nay, cả thế giới đều biết uống trà và trồng trà, tất cả các giống trà này đều phát xuất từ cây trà Camellia Sinensis Trung Quốc.

    2. Trà qua các thời đại

    Trước thế kỷ VII, trà là một thức uống thông dụng có lợi cho sức khỏe tuy giá của nó khá đắt. Trà lúc đó được nấu chung với hành, muối, vỏ cam quít và một số lá cây có vị the như húng,… Món trà đắng chát và mặn này ngày nay vẫn còn dấu vết ở cách uống trà của dân du mục. Trà cụ thời đó cũng chưa định hình, người ta nấu trà trong nồi đất, siêu đất và dùng chén ăn cơm để uống. Giới quý tộc thì chuộng chén bằng vàng, bạc hoặc các loại bình, chén uống rượu.

    Thời nhà Đường (618-907)

    Trà không còn là một thức uống hỗn tạp bình thường mà đã trở thành một nghệ thuật, ngang tầm với cầm kỳ thi họa. Các danh sĩ ca tụng trà, phẩm chất thanh cao của trà dần dần vượt cả “tửu” và “kỳ”. Trà được dùng cúng lễ trên các bàn thờ gia tiên, đình làng, lăng miếu. Đối với giới đạo gia, thiền gia, trà là một thức uống thanh khiết và có nhiều dược tính tốt lành.

    Có rất nhiều loại trà: Diệp trà (trà lá, gần giống như trà ngày nay), Mạt trà (trà bột, chỉ còn thấy dùng trong Chanoyu - trà đạo Nhật Bản), Bính trà (trà bánh, hay còn gọi là trà gạch) và trà nát. Bính trà rất được mọi người ưa chuộng trong thời này. Đây là loại trà sau khi đã phơi, sấy, được nghiền nhỏ cho vào khuôn đóng thành bánh, mỗi bánh đều có lỗ có thể xâu lại được. Khi uống thì thái thành từng phiến mỏng, đánh tơi ra như bột, bỏ vào bát rồi châm nước sôi vào. Hiện nay, người Mông Cổ, Tây Tạng vẫn còn dùng loại trà này, có lẽ vì chúng dễ vận chuyển, còn người Trung Quốc thì hầu như không còn biết đến nữa.

    Khoảng giữa thế kỷ VIII, Trà Kinh ra đời đánh một dấu son trong nghệ thuật thưởng trà và trở thành tác phẩm kinh điển về trà, tác giả Lục Vũ được tôn làm “Trà thần”. Trà Kinh đề cập đến mọi khía cạnh của trà, từ cách trồng trà, hái trà, chế biến, đến cách pha trà, uống trà, trà cụ, các danh trà nổi tiếng, lược đồ,… Những nhận định của Trà Kinh vẫn thường được coi là châm ngôn cho đến ngày nay. Ngoài ra còn có một tác phẩm về trà nổi tiếng khác là Trà Ca của Lô Đồng, qua tác phẩm này người ta biết đến trà Dương Tiến, loại trà đặc biệt dùng để tiến vua vào thời đó.

    Thời này trà được “nấu” trong một loại “chảo”, vì người ta vẫn còn thói quen cho hành, gừng, vỏ cam quýt… vào nấu chung với trà để uống. Giới trà sĩ bắt đầu chuộng các trà cụ làm bằng sành sứ và bỏ không dùng trà cụ bằng kim loại. Theo Trà Kinh của Lục Vũ, thời này phải có đến 24 loại trà cụ. Tuy nhiên tất cả những trà cụ này, đời sau gần như không còn ai sử dụng nữa nên mất hút theo thời gian, chỉ có chén trà là tồn tại.

    Chén trà lúc này có tên gọi “oản” hay “uyển”, loại “oản” được ưa chuộng nhất là “oản” men xanh, gọi là thanh từ, sản xuất ở Việt Châu. Theo Lục Vũ, trong các loại “oản”, “oản” Việt Châu đứng đầu, kế đến là Định Châu, Hình Châu… Ông viết: “Nếu gốm Hình Châu là bạc, thì gốm Việt Châu là ngọc; nếu gốm Hình Châu là tuyết, thì gốm Việt Châu là băng. “Oản” Hình Châu màu trắng nên trà có màu đỏ, “oản” Việt Châu có men xanh nên trà có màu lục” (Nhược Hình từ loại ngân, tắc Việt từ mỹ ngọc. Nhược Hình từ loại tuyết, tắt Việt từ loại băng. Hình từ bạch nhi trà sắc chu. Việt từ thanh nhi trà sắc lục).

    Thời nhà Tống (960-1280)

    Đến thời này, nghệ thuật trà đã tiến một bước khá dài cả về trà phẩm lẫn trà cụ. Lúc này người ta chỉ pha trà thuần túy, không còn bỏ muối bỏ gừng vào nữa. Trà bánh vẫn còn thịnh hành nhưng dân chúng đã bắt đầu chuộng trà rời (trà lá), cho đến cuối đời Nam Tống thì trà rời hoàn toàn thắng thế.

    Thời này vẫn dùng siêu bằng sành hoặc bằng đất để đun nước. Ấm pha trà đã có, nhưng kích thước vẫn còn lớn và hình dáng hơi giống với bình rượu. Người ta uống trà bằng loại chén mới, gọi là “trản”. “Trản” thời Tống vẫn còn miệng lớn như chén ăn cơm, nhưng nông hơn, màu đen hoặc đen nâu rất được ưa dùng. Ngày nay “trản” chỉ còn được ưa chuộng trong trà đạo Nhật Bản.

    Tác phẩm nổi bật của thời này là Trà Lục của Thái Tương (1012-1068), và Đại Quan Trà Luận của vua Tống Huy Tông (làm vua từ 1101-1125). Trà Lục được viết như là một bản phúc trình để tấu lên vua, vì trà thời Tống là một ngành sản xuất lớn, gần như là sản phẩm duy nhất để trao đổi với các dân tộc phương Bắc để lấy ngựa chiến. Đại Quan Trà Luận là một trong những tác phẩm quan trọng về trà, qua tác phẩm này ta biết được nhiều về trà thuật thời Tống.

    Thời nhà Minh (1368-1644)

    Phong thái uống trà thời Minh vẫn không khác gì thời Tống, nhưng trà rời đã hoàn toàn thay thế trà bột và trà bánh. Nước được đun sôi trong ấm đồng, không còn dùng siêu sành nữa. Vì mọi người đều dùng trà rời, nên ấm trà bấy giờ mới chính thức ra đời, họ đã biết dùng ấm để pha trà. Chén uống trà lúc này cũng thay đổi, họ không còn dùng “trản” nữa. Ấm và chén trà có hình dạng giống như ấm chén chúng ta đang dùng ngày nay.

    Khoảng giữa thời Minh lại có phong trào uống trà từng chén nhỏ pha bằng ấm nhỏ (ấm quả quít, chén hạt mít). Giới trà sĩ ca tụng nghệ thuật uống trà bằng chén nhỏ này, vì vậy mà từ “ngưu ẩm” ra đời để chỉ cách uống không có nghệ thuật và không biết thưởng thức hương vị của trà.

    Ngoài ấm chén, thời Minh bắt đầu dùng “chung”. Đây là loại chén lớn và sâu, có nắp đậy. Chung trà có thể dùng thay ấm để pha trà rồi chuyển sang chén nhỏ, hoặc vừa dùng để pha trà vừa để uống. Khi uống người ta cầm chung bằng hai tay, một tay khẽ nâng nắp ra để ghé môi vào, nắp chung còn dùng để gạt những lá trà còn nổi trên mặt nước, để khi uống không rơi vào miệng.

    Trà trong thời này cũng là nguồn lợi xuất cảng quan trọng, nên dân chúng được khuyến khích trồng trà khắp nơi. Uống trà đã trở thành một phong tục tập quán trong dân gian. Trà đương nhiên trở thành một trong thất dụng của xã hội Trung Quốc, được triều đình chính thức chỉ định, đó là: dầu, muối, củi, gạo, tương, dấm và trà.

    Thời nhà Thanh (1644-1911)

    Có thể nói, đến thời Tống thì trà đã hoàn chỉnh, đã kết thành một nghệ thuật uống trà cổ điển. Nhà Thanh là một dân tộc ngoại vi cai trị Hán tộc, nhưng họ cũng đã chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc một cách sâu đậm từ trước, nên sau khi chinh phục được nhà Minh, chính họ lại bị đồng hóa. Vì thế nghệ thuật uống trà, sản xuất trà thời này không có gì khác lạ.

    Người Mãn Thanh là dân du mục nên có thói quen uống trà cho thêm sữa. Thế nhưng khi cai trị Trung Quốc, họ đã không khiến được người Hán uống trà thêm sữa mà lại vô tình truyền sang Anh, do các nhà ngoại giao và thương nhân người Anh từng được giai cấp quý tộc Mãn Thanh giới thiệu món trà sữa này.

    Đây là thời đại phát triển nhất của đồ sứ với các đặc tính: vỏ mỏng như vỏ trứng, màu trắng tinh, men bóng như gương, gõ vào nghe tiếng thanh như chuông. Riêng về trà cụ thì tất cả đã hoàn chỉnh vào thời Minh, các thời sau chỉ mô phỏng và phát triển thêm mà thôi.

    Trà thời nay

    Thế giới hiện nay có hàng ngàn loại trà, có thể phân thành ba loại: trà xanh (lục trà – green tea), trà đen (hồng trà – black tea) và loại trung gian (Ô Long là loại trà phổ thông nhất trong loại trung gian này). Âu Mỹ chuộng trà đen, còn Á Đông thì gần như chỉ dùng trà xanh và trà Ô Long.

    Người Á Đông sành trà nhất là người Nhật, người Việt, người Hoa và Triều Tiên, họ truyền bá trà thuật đi khắp thế giới. Thế nhưng trong khi giới thượng lưu Âu Mỹ bắt đầu học hỏi về trà thuật thì phần lớn người Á Đông lại mất hẳn thú vị về nghệ thuật này, giới trẻ còn ưa chuộng cách uống trà gói, trà túi lọc nhập cảnh từ Âu Mỹ.

     

     3. Trà danh

    Các danh trà Trung Quốc

    Chưa ai thống kê được chính xác Trung Quốc có bao nhiêu loại trà, nhưng khi bước chân vào một tiệm trà lớn ta sẽ thấy hàng trăm ngăn tủ đựng các loại trà khác nhau, đó là chưa kể tới những loại trà đặc biệt không bán ra ngoài, chỉ để dành cho khách quen, biết thưởng thức trà. Hãy thử làm một chuyến viễn du đi thăm các vườn trà danh tiếng cổ kim.

    Triết Giang là một tỉnh đẹp nhất của Trung Quốc với những dãy núi cao bạt ngàn, rừng đào trùng điệp, những ngôi cổ tự rêu phong ẩn hiện nơi núi rừng cô tịch, biển hồ nhấp nhô sóng vỗ,… Đối với trà nhân thì nơi đây còn là thánh địa mà người yêu trà luôn mong muốn được một lần ghé qua. Triết Giang nổi tiếng với trà Long Tĩnh, Vũ Huyệt, Thiên Trụ, Nhật Thọ, Tử Duẫn, Nhạn Đãng,…

    Giáp với Triết Giang là An Huy, một tỉnh nổi tiếng với các loại hồng trà như Lục An, Kỳ Môn, Tùng La. Vùng đất Tứ Xuyên phía tây Trung Quốc, quê hương của các anh hùng hảo hán lẫy lừng trong sử sách, cũng vang danh thiên hạ với hai loại trà Mông Đỉnh và Thanh Thành.

    Phúc Kiến bắt đầu nổi danh về trà kể từ khi cả nền văn hóa Trung Quốc gần như theo nhà Nam Tống lùi về phía nam. Có thể nói hơn năm phần mười trà ngon đều tập trung ở vùng này và đỉnh cao nhất, tiếng tăm nhất là trà Vũ Di Sơn với các danh trà: Mao Hài, Phật Thủ, Thiết La Hán, Thủy Tiên, Đại Bạch, Đại Hồng Bào,… Ngoài ra còn có trà ở vùng Kiến An, đây là một trong những nơi làm trà tiến cống, nổi tiếng song song với trà Vũ Di Sơn.

    Vân Nam là vùng sản xuất trà sớm nhất Trung Quốc, từ lâu đã sản xuất đủ loại trà qua mọi thời đại: từ trà gạch, trà bột, trà rời cho đến lục trà, hồng trà, trà Ô Long. Ngày nay Vân Nam nổi danh với trà Mẫu Đơn Vương, Túy Dương Phi, Vạn Niên Thanh, Dạ Dạ Xuân, Ngũ Hoa,…

    Ngoài các danh trà nổi tiếng trên đây, Trung Quốc còn có những loại trà huyền thoại lưu truyền trong dân gian như Hầu trà, Trảm Mã trà, Trùng Điệp trà, Tiên Nhai trà,…

    Hầu trà

    Có rất nhiều truyền thuyết về Hầu trà, chuyện về Hầu trà ở Triết Giang có lẽ là ly kỳ hơn cả. Nguyên Thiên Tuệ Tùng Lâm là một đạo tràng ở sâu trong vùng rừng núi Triết Giang, nhà chùa có trồng một vườn đào. Một hôm bỗng có một đàn khỉ đông đảo đến ăn trái, chú tiểu coi vườn la hét đến khản cổ mà bọn khỉ vẫn không sợ. Đến khi có ba bốn vị tăng nữa nghe tiếng chạy đến thì gần như cả vườn đào đã bị bọn khỉ phá tan tành. Mấy huynh đệ đành về nhà chịu tội với phương trượng, ngài chỉ ôn tồn nói: “Thôi không sao, phật dạy ta phải có lòng thương đến tất cả chúng sinh. Lũ khỉ đói quá mới phải liều trộm trái cây, hơn nữa các con phải hiểu lẽ không của mọi sự mất còn…”

    Kể từ đó chúng chư tăng không còn đánh đuổi đàn khỉ nữa, hai bên dần dần trở nên thân thiết. Mùa đông năm đó lại xảy ra bão tuyết liên miên, cho đến một hôm cả đàn khỉ kéo đến tận sân chùa la hét phá phách như điên cuồng. Vị phương trượng đoán rằng lũ khỉ bị đói, ngài truyền cho nhà bếp bỏ đồ ăn vào đầy các bao, thảy cho chúng. Lũ khỉ có được đồ ăn, chia nhau tha đi. Mùa xuân rồi cũng đến, đàn khỉ sống sót sau mùa đông đó là nhờ nhà chùa, tự nhiên kéo đến mang theo bao nhiêu là đọt trà non chất đầy trong những túi đựng đồ ăn cũ. Lẽ dĩ nhiên đây là loại trà bất phàm, người đời chưa được thưởng thức bao giờ.

    Trùng Điệp trà

    Chuyện nói rằng ở vùng núi Ly Sơn, Thiểm Tây, về mùa xuân, trên các cây trà rừng tự nhiên sinh ra một loại sâu chuyên ăn búp trà. Các vị đạo sĩ vào tận rừng sâu tìm bắt những con sâu này, mang về mổ bụng lấy men (sic) trà ủ trong ruột sâu, chế biến với búp trà tạo thành loại trà vô giá gọi là Trùng Điệp trà.

    Phân loại trà

    * Hạng trà

    Quả thật đây là vấn đề rất phức tạp, hạng trà được phân định tùy theo cách pha chế của từng vùng, nhất là theo thời điểm hái trà, theo phẩm lượng của đọt trà… Tiêu chuẩn thứ nhất để chọn trà và biết trà ngon là về phẩm. Bình thường loại trà thượng hạng đều thuộc loại “trà một lá”, nghĩa là chỉ gồm búp non và một lá nhỏ. Loại hạng nhất là loại “trà hai lá”, gồm búp non và hai lá gần đó. Đến loại hạng nhì - trà ba lá là hạ phẩm.

    Thời điểm hái trà lại quan trọng hơn rất nhiều vì phẩm chất chất khác biệt của nó. Sau một mùa đông dài, xuân đến cây cối đâm chồi nẩy lộc, những đọt mầm đầu tiên chứa đựng tinh túy của bao tháng ngày tiềm ẩn phải là hạng thượng đẳng. Vì vậy ta có hạng xuân trà (trà xuân, trà đầu mùa). Trà này còn có tên là “Minh tiền” chỉ loại trà được hái đầu tiên trong mùa xuân, trước tiết Thanh minh, khoảng cuối tháng hai đầu tháng ba âm lịch.

    Khi trà bắt đầu phơi phới ra đọt non nhưng không kịp hái vào trước tiết Thanh minh, hoặc hái thêm vào sau đó, thì vẫn là xuân trà nhưng được gọi là “Tiền vũ”, tức là trà hái trước tiết Cốc vũ (sau Thanh minh nửa tháng). Gọi là “Tiền vũ” vì lúc này mùa mưa đã bắt đầu.

    Mưa xuống cây đâm chồi mau hơn, nhanh hơn, lẽ dĩ nhiên trà sau đó hái được nhiều hơn nhưng phẩm chất kém đi. Vì vậy “Vũ hậu” là danh từ chỉ tất cả các hạng trà khác, không phải là trà xuân.

    Ngoài ra còn có trà “Xã tiền” là loại trà hái trước ngày Kinh trập (Kinh trập trước Thanh minh một tháng), trà “Hỏa tiền” hái trước ngày lễ Cấm hỏa (nay gọi là lễ Hàn thực). Sách Học Lâm Tân Biên có luận rằng: “Trà quý là hạng hái vào trước ngày Kinh trập, kế đó là hạng hái trước ngày Hàn thực, kế nữa là hạng hái vào trước tiết Cốc vũ” (Trà chi quý giả, triệu tại Xã tiền, kỳ thứ Hỏa tiền, kỳ thứ Vũ tiền), cả ba đều là loại trà hái sớm vào đầu xuân.

    * Loại trà

    Chúng ta có cả ngàn loại trà, nhưng có thể phân thành ba loại chính: hồng trà, lục trà và trà Ô Long. Người ta thường chỉ hiểu rằng lục trà khi pha sẽ cho nước màu xanh nhạt, hồng trà cho nước màu đỏ nâu đậm và trà Ô Long thì cho nước màu đỏ nâu nhạt. Nhận định đó chỉ đúng một phần, vì ba loại trà này rất khác nhau về cách chế biến, và điều ngạc nhiên nhất là lục trà, loại trà mà người Á Đông ưa thích, lại là loại trà được chế biến đơn giản nhất.

    * Hồng trà

    Thông thường trà được chế biến qua ba giai đoạn chính sau đây:

    Ải trà (Duy niêu): trà tươi mới được hái về phải được hong trong nhà hoặc ngoài nắng từ 8 giờ đến 24 giờ. Ngày trước hoặc với loại trà quý, người ta thường dùng tay trải trà trên những mẹt tre phơi ngoài sân hay trong nhà nơi thoáng khí. Mục đích của giai đoạn này là làm cho trà tái đi, mất chất nước và mềm hơn.

    Ủ trà (Phát diếu): trà sau khi hong và ải, đã mất đi nửa trọng lượng ban đầu trở nên mềm dẻo, trà được đưa vào máy quay đều, đánh vào thân trà cho bật chất nhựa ra. Chất nhựa này là chất nước chứa đựng những sinh hóa dược chất của trà (trà chất). Trà lúc này có mùi chua chua và trở thành màu xám đậm, trải trà trên các mẹt tre để yên trong phòng rộng, mát và ẩm. Giai đoạn ủ trà nhằm để cho các trà chất tương tác, phối hợp với khí oxy trong không khí. Các loại trà khác nhau là ở giai đoạn này, thời gian ủ càng lâu màu trà càng đậm và màu nước khi pha trà càng đậm.

    Sấy khô (Càn táo): là giai đoạn cuối cùng, mục đích của giai đoạn này là cô kết tất cả các trà chất để có thể giữ được lâu. Cách đơn giản nhất là trà được sấy khô trên lửa, các “chất nước” ở trong trà đến lúc này được cô kết còn có 5%, và sẽ nhả ra khi ngấm nước, đó là lúc pha trà.

    * Lục trà - trà Long Tĩnh

    Nói chung cách chế biến các loại trà xanh đều đơn giản giống nhau, và cũng vì đơn giản nên trà giữ được tất cả trà chất ở trạng thái tố phác nhất. Vì vậy cũng không lấy làm lạ khi người Á Đông đều chuộng trà xanh, và hầu hết các loại trà danh tiếng cổ kim được các trà nhân, thi nhân ca tụng đều là trà xanh.

    Trái với các loại trà khác, thường phải trải qua các giai đoạn ải, ủ lâu lắc, trà xanh hái vào buổi sớm được chế biến trong nội buổi chiều là xong. Trà hái về người ta cho ngay vào sàng để sấy mềm trên bếp lửa. Giai đoạn này gọi là “sát thanh”, mục đích của nó là làm khô ngay tất cả hóa dược chất ở trà, không cho nó có dịp ứa ra rồi oxy hóa như giai đoạn ủ của các loại trà khác. Sau khi sấy khô và mềm, trà được đánh đều, búp và lá non vẫn giữ nguyên trạng nhưng như bị cào đều trên mặt da, nhằm làm cho trà mềm hơn và dai hơn, để khi pha nước sôi, nước có thể thấm ngay vào tận từng sớ trà. Giai đoạn này gọi là “nhu niêm” (uốn nắn trà). Sau giai đoạn “uốn nắn” này, trà được sấy khô trên lửa hoặc bằng hơi nóng là xong.

    * Trà Ô Long – trà Thiết Quan Âm

    Trà hái về phải được hong cho héo đi, có thể hong ngoài trời hay hong trong nhà, nhiều vùng hong cả hai cách gọi là cho đủ âm dương. Khi hong, thỉnh thoảng phải đảo cho trà héo đều. Sau đó trà được đưa vào trong nhà, được cào ra rồi trải trên sàn nhà hoặc sàng tre, ủ cho “lên men”. Sau khi ủ, trà được làm dập sơ sài (sơ nhu) trước khi sấy, sấy ở giai đoạn này khá giống giai đoạn “sát thanh” ở trà xanh, chỉ giữ cho mức độ lên men đứng ở giai đoạn này mà thôi, chứ không phải sấy khô để thành trà. Sau khi sấy, trà lại được mang ra cho vào máy quậy đều (tinh nhu), rồi được sấy trở lại cho khô hơn chút nữa. Kế đó, trà được mang ra cắt (si phân), chọn cho đều (thiết đoạn) rồi được sàng lọc phân ra mảnh trà chính và các trà vụn trà bột… Lúc này trà đã có màu thép đen bóng, bấy giờ trà mới được chuyển qua sấy trên lửa cho khô lần cuối cùng.

     4. Trà Hữu

    Từ xưa đến nay, tất cả trà nhân bốn biển đều đồng ý “nước” là vấn đề căn bản thứ nhất sau trà. Cổ nhân vẫn gọi nước là “trà hữu”, là bạn thiết của trà là vì lẽ đó. Đã có được trà ngon, cần phải có được nước tốt để pha trà.

    Trà thần Lục Vũ có nói một câu, đã trở thành khuôn vàng thước ngọc cho trà nhân cả ngàn năm nay: “Nhất nước suối, nhì nước sông, ba là nước giếng” (sơn thủy thượng, giang thủy trung, tỉnh thủy hạ). Tác phẩm Trà Kinh cũng nói rằng: lấy nước suối không phải bạ đâu lấy đó, nước từ thác cao đổ xuống đã không được, nước suối ở khúc suối chảy lờ đờ qua đất cát cũng không được. Nước suối tốt nhất phải lấy ở khúc suối chảy trên sỏi, chảy vào hồ đá. Còn nước sông, đây phải là sông ngày xưa, thời chưa bị ô nhiễm như ngày nay, đương nhiên cũng phải lấy ở thượng nguồn, lấy giữa dòng sông, nơi sông không chảy xiết như sắp đến đập, đến thác, phải lấy nước xa nơi người ở. Về nước giếng, thì những giếng thượng hạng thường là giếng của chùa, chùa ở trên núi hoặc ít nhất cũng xa nơi đô hội hỗn tạp.

    Trương Hựu Tân thời Đường, trong Tiễn Trà Thủy Ký (sách viết về nước để pha trà) còn liệt kê hẳn hai mươi nguồn nước đệ nhất thiên hạ:

    1. Thứ nhất là nước động Thủy Liêm ở Khang Vương Cốc trên núi Lô Sơn

    2. Thứ đến là suối Thạch Tuyền, chùa Huệ Sơn ở huyện Vô Tích

    3. Thạch Tuyền Lan Khê ở Kỳ Châu

    4. Độc Tình Lãnh trên núi Phủ Tử Sơn ở Hạp Châu

    5. Thạch Tuyền ở Hổ Khâu Tự, Tô Châu

    6. Nước đầm Phương Kiền, Quải Hiền Tự, Lô Sơn

    7. Nam Linh thuộc Dương Tử Giang

    8. Suối Tây Sơn, Hồng Châu

    9. Hoài Thủy, huyện Bách Nham, Đường Châu

    10. Nước trên đỉnh Long Trì Sơn, Lô Châu

    11. Nước chùa Quan Âm, huyện Đan Dương

    12. Nước chùa Đại Minh, Dương Châu

    13. Thượng nguồn Hán Giang

    14. Nước Hương Khê trong động Ngọc Hư Động, Quý Châu

    15. Nước Tây Lạc, Vũ Quan, Thương Quan

    16. Nước Ngô Tùng Giang

    17. Nước ở thác cao ngàn trượng ở Tây Nam Lãnh, Thiên Đài Sơn

    18. Suối Viên Tuyền, Liễu Châu

    19. Hán Thủy, huyện Nghiêm Lăng, Đồng Lô

    20. Tuyết thủy (nước từ tuyết tan ra)

    Thương hải tang điền, kể từ Trương Hựu Tân đến nay, hơn một ngàn năm đã qua, suối rừng trăm lần thay lá đổi dòng, bảng liệt kê trên đây ắt không còn chính xác nữa, hơn nữa đâu có ai bảo đảm Trương tiên sinh đã đi hết ngàn núi trăm sông để thử trà thử nước. Sách Đại Minh Thủy Ký đời sau mặc dù không phủ nhận Trương Hựu Tân là một đại cao thủ trong trà giới nhưng cũng nói thẳng: “Dục cử thiên hạ chi thủy, nhất nhị thứ đệ chi giả. Vọng thuyết dã”

    Tuy chưa hẳn hai mươi nguồn nước này là đệ nhất thiên hạ, nhưng trong văn chương sử sách, những danh tuyền linh thủy nêu trên đã được nhắc đến rất nhiều, ít nhất trong thời Đường - Tống tất cả những linh thủy này đều nổi tiếng. Cho đến ngày nay Thạch Tuyền ở chùa Huệ Sơn, huyện Vô Tích, và Thạch Tuyền ở chùa Hổ Khẩu, Tô Châu vẫn còn được coi là loại nước pha trà danh tiếng thượng hạng.

    Cổ nhân lại còn phân biệt “thiên thủy, địa thủy”. Thiên thủy là tuyết và nước mưa, địa thủy là nước suối, nước giếng và nước sông. Tuyết thủy là chứa tuyết trong lu, đợi tan ra thành nước, chỉ dùng khi nước đã bớt lạnh. Thứ tuyết thủy này Trương Hựu Tân cũng đã sắp vào hạng cuối trong số hai mươi tuyệt phẩm. Độc giả đọc Hồng Lâu Mộng hẳn còn nhớ Giả Bảo Ngọc được ni cô Diệu Ngọc mời uống trà trong chén ngọc pha bằng nước tuyết, mùi vị thanh đạm thoát tục.

    Trong danh sách trên có nhắc đến nước dòng Nam Linh, một nhánh nhỏ của sông Dương Tử, nguồn nước này có liên quan đến một truyền kỳ về Trà thần Lục Vũ. Nguyên thời đó, Lý Quý Khanh được cử đi làm Thứ sử Hồ Châu, đoàn thuyền của ông đi ngược Dương Tử Giang lên đáo nhậm Hồ Châu, đến nửa đường thì gặp Lục Vũ, lúc này đã vang danh Trà thần. Lý Quý Khanh ân cần mời Lục Vũ lên thuyền, rồi vội vã sai thuộc hạ mang thuyền đi ngay đến Nam Linh lấy cho được nước mang về pha trà đãi Lục Vũ.

    Khi nước mang về, Lục Vũ lấy bát múc nước thử, ông nói ngay: “Nước này đúng thật nước sông, nhưng không phải là nước Nam Linh”. Viên thuộc quan lấy nước vội thưa liền: “Chính tôi múc nước này ở Nam Linh, có mặt cả trăm người chứng kiến, làm sao sai được?”. Lục Vũ không tranh biện, tự tay lấy môi dài thọc vào chum nước, môi đến khoảng độ nửa chum, ông chợt hiểu ra vội nói liền: “Phía dưới quả thật là nước Nam Linh”. Mọi người kinh ngạc, không ai hiểu ra làm sao. Lúc này viên quan lấy nước mới thú nhận, ông ta quả thật có đến tận Nam Linh lấy nước, lúc quay về chum nước nghiêng đổ đi mất một ít. Phần sợ, phần nghĩ nước sông chỗ nào cũng giống nhau, ông tự múc thêm đổ cho đầy rồi mang về. Lúc bấy giờ mọi người mới vỡ lẽ và danh tiếng Lục Vũ càng chấn động thiên hạ.

    Cổ thư còn ghi lại trường hợp Vương An Thạch, tể tướng đời nhà Tống, được vua ban cho một ít trà Dương Tiễn. Nhân tiện có viên quan từ Tứ Xuyên sắp về triều sẽ đi qua ngọn sông Dương Tử, ông này nhận được tin phải mang về một chum nước ở cấp thứ hai. Ông quan này mải ngắm cảnh đẹp bên sông lúc nhớ ra thì thuyền đã đến cấp nước thứ ba, ông đành phải lấy nước ở đó.

    Đến kinh đô, sau khi đưa nước, Vương An Thạch cho lấy nước đi pha trà. Nhưng trà pha xong, nhìn chén trà và sau khi nếm thử, Vương An Thạch hỏi: “Quả thực ông lấy nước ở đâu?” Lẽ dĩ nhiên viên quan này phải nói dối. Nghiêm sắc mặt, tể tướng họ Vương mắng: “Ngươi thật có lỗi với lão già này, ngươi đã lấy nước ở cấp thứ ba mà còn dối lão”. Viên quan đỏ mặt sượng sùng, cúi lạy xin lỗi phân trần nhưng vẫn tỏ ý ngạc nhiên tại sao Vương tể tướng lại biết. Vương An Thạch mới nói rằng: “Là người quân tử chẳng thể nói mà không có chứng cứ. Ta đọc sách nên biết rằng nước ở thượng cấp quá xiết, nước ở hạ cấp quá chậm, chỉ có nước ở trung cấp là dung hòa. Nước ở thượng cấp pha với trà, thì làm trà mau tan, hương trà mau nổi mà không bền. Nước ở hạ cấp như nước này, thì trà phải đợi lâu mới thấm, trầm trầm thiếu khí lực”.

    Thời xưa, chuyển vận khó khăn, nước lại phải chứa trong những chum sành nặng nề, trà nhân phải rất kỳ công mới có được nước tốt để pha trà. Không hiếm những trà nhân lang thang tận chốn rừng sâu núi thẳm để tìm cho được nước ngon, khi một dòng suối, giếng lành được phát giác, thì đó là một biến cố trong giới trà sĩ. Nếu có dịp du hành, không ai là không tìm đến những nguồn nước danh tiếng lừng lẫy cổ kim để pha trà thưởng thức.

    5. Trà Cụ

    Ở đây chỉ dám bàn về một số trà cụ căn bản và đơn giản của trà thuật. Trà cụ đầu tiên cần phải có là ấm pha trà, nên dùng ấm đất và nên có hai ấm: một ấm độc ẩm và một ấm song ẩm. Cùng một loại ấm, nhưng cái ấm được dùng thường xuyên có khi quý gấp trăm lần cái ấm chưa dùng chưng trong tủ kính.

    Để có một ấm pha trà tốt, khi mua ấm về hãy lấy giấy nhám loại thật nhuyễn đánh trong lẫn ngoài thật kỹ, rồi cho trà vào ninh đúng 7 ngày 7 đêm, liên tục thêm nước thêm trà cho nước lúc nào cũng ngập cả ấm. Ninh xong rửa sơ bằng nước lạnh rồi ủ vào trà khô một hai tuần lễ trước khi dùng. Không bao giờ được rửa ấm bằng xà bông, chỉ rửa bằng nước lạnh, kỳ cọ bên ngoài, bên trong chỉ tráng nước sôi rồi để khô.

    Về chén nên có một hai bộ chén, nên dùng chén bằng sứ cho màu trà được đẹp, nhất là trà xanh. Chén phải được rửa kỹ, luôn trắng bóng, không bao giờ để vương một ngấn nước sậm màu trên chén. Trái với ấm, chén cổ không đáng giá trừ phi chén đẹp. Nên có một trà thuyền để ngâm ấm và chén cho nóng trước khi pha trà. Ngoài ra còn có lu sành để đựng nước, bình sứ để chứa trà, thìa gỗ hay thìa tre dài để lấy trà, trà khay đựng nước thừa,…

     6. Video:  Kĩ thuật Pha Trà

    Đã có trà ngon, có nước mát và có trà cụ hợp lý, giờ thì bắt đầu pha trà. Ở đây, chỉ xin trình bày cách pha trà đơn giản nhất

    Chuẩn bị: Bắc nước lên nấu. Khi nước sôi ở 100 độ C, đổ nước vào ấm và trà thuyền, đợi cho ấm nóng đều rồi đổ nước ở ấm ra. Lúc này ấm đã nóng mới cho trà vào. Châm một chút nước sôi để rửa trà, đây là rửa trà nên vừa đổ nước vào thì phải đổ ra ngay để trà chưa kịp ngấm. Bấy giờ mới rót nước sôi vào, lúc này nước còn khoảng 90 độ rất vừa cho trà xanh. Bình thường trà xanh loại tốt thì chỉ đợi chừng ba phút là trà đã ngấm. Trong lúc chờ trà ngấm, tráng sơ các chén bằng nước nóng, hoặc chén đã được ngâm trong nước sôi cùng với ấm.

    Châm trà: rót hai phần ba trà trong ấm ra chén tống, để lại một phần ba trong ấm để làm nước cốt, cho thêm nước sôi vào ấm để uống tuần thứ nhì. Chuyên trà từ chén tống ra các chén quân, lúc này nước trà đã vừa uống.

    Mức nước sôi rất quan trọng. Hồng trà cần nước sôi gần đủ 100 độ C, loại trà Ô Long cần nước trên 90 độ, trà xanh ở mức 90 độ, trà xanh thượng hảo hạng thì phải để nước sôi nguội bớt xuống còn khoảng 85 độ. Nên nhớ nước phải đun đến 100 độ rồi để nguội xuống vừa đủ để pha các loại trà, chứ không phải không cần đun đến độ sôi. Trà pha với nước chưa sôi thì không đủ độ để “bốc” hương trà, còn nếu pha với nước nóng hơn cần thiết thì hương trà “bốc” lên mạnh nhưng không bền, không có hậu.

    Sách Đại Quan Trà Luận của Tống Huy Tông có nói: “Trà cho nước trong là thượng hạng, xanh xám thứ nhì, trắng xám thứ ba, trắng vàng thứ tư. Nếu thời tiết đúng mức, trà được hái và sao tẩm đúng mức sẽ phải cho màu trắng (?). Nếu thời tiết quá nóng, đọt trà sinh trưởng quá mau, cũng như hái trà và chế biến trà không đúng thời giờ, thì bạch trà cũng biến thành màu vàng. Màu xanh đục chứng tỏ trà được sao tẩm không đủ, màu trắng xám là kết quả quá mức. Nếu sao tẩm không đủ trà sẽ cho nước quá đậm màu, quá lửa thì cho nước màu hung đỏ.”

    Trà Sớ của Hứa Thư thì luận rằng: “Khi pha trà, trà cụ phải thật sạch thật tinh khiết, được bày sẵn trên bàn. Ấm trà được mở nắp, nắp phải được đặt ngửa hoặc nằm trên dĩa, mặt trong của nắp phải để ngửa vì không cho chạm với mặt bàn, có thể có mùi sơn dầu hoặc mùi thức ăn còn ám trên bàn sẽ nhiễm tạp vào hương trà. Trà không được pha hơn hai lần. Lần nước đầu trà cho vị tươi mát đặc biệt, lần nước thứ hai trà có vị ngọt ngào, nhưng đến nước thứ ba thì không còn thú vị. Vì vậy lượng nước trong bình không cần nhiều. Tuy nhiên nước pha sau lần thứ hai, trà vẫn còn chút hương vị có thể dùng súc miệng sau bữa ăn.”

    7. Lợi và hại của trà

    Theo sách cổ thì trà có thể chữa được bách bệnh, còn theo y học tây phương thì trà chứa nhiều dược chất có ích cho cơ thể.

    Caffeine: mức độ tinh chất cà phê ở trà rất tốt, nó là chất tác động làm cho con người luôn tỉnh thức, đặc biệt cho người có chứng bệnh mệt mỏi, buồn bã khi vừa thức dậy, hay cần tỉnh táo để tập trung tư tưởng, làm việc ban đêm… Tinh chất cà phê lại giúp cho việc lọc máu, lợi tiểu, rất hiếm có người uống trà mà bị bệnh sạn thận.

    Tannic Acid: chất tannic này chống lại các chất độc alkaloid, cho nên rất tốt trong việc tiêu hóa các loại thức ăn nhiều dầu mỡ. Chất này còn có tác dụng tiêu diệt nhiều loại vi khuẩn có hại trong hệ thống tiêu hóa của con người.

    Tinh dầu: trong trà có nhiều loại dầu thực vật, đó là nguyên nhân khiến trà có hương vị thơm tho ngọt ngào, nhưng quan trọng hơn là các tinh dầu này có tác dụng rất quan trọng trong việc trấn tĩnh hệ thần kinh, làm phấn chấn tinh thần, điều hòa hệ hô hấp.

    Vitamin: trong trà người ta tìm thấy các loại vitamin quan trọng cho cơ thể con người là A, B2, D và P. Vitamin P rất tốt cho các bệnh nhân về tim và huyết áp cao. Đặc biệt chỉ có trà xanh là có chứa Manganese, kim loại rất hiếm trong các thực phẩm thông thường nhưng rất cần cho cơ thể.

    -o0o-

    Trà luôn luôn là tri kỷ của thi gia. Khi sương sớm lúc tàn canh, khi trầm tư ngẫm nghĩ về thế sự, lúc cô đơn đối diện với lẽ tử sinh vô thường, khi thất chí ẩn mình ở chốn quạnh hiu, lúc thanh nhàn vui hưởng thú tiêu dao… Nhấp một ngụm trà, thưởng thức cái phong vị thanh cao thoát tục, nối bước thiền gia, giữ cho tâm linh thư thái, vứt bỏ hẳn tạp niệm, vượt lên những nhỏ nhen đố kỵ tầm thường của đời người, mở lòng với thiên nhiên vạn vật.

    Xin mượn bài thơ “Loạn hậu đáo Côn Sơn cảm tác” của danh nhân Nguyễn Trãi - bậc đại công thần khai quốc của triều Lê, khi công thành danh toại ông chỉ muốn quay về nơi sơn dã, xây nhà bên suối, múc nước pha phà, gối đầu ngủ vùi trên đá – để thay cho lời kết.

    Nhất biệt gia sơn kháp thập niên

    Quy lai tùng cúc bán tiêu nhiên

    Lâm tuyền hữu ước na kham phụ

    Trần thổ đê đầu chỉ tự liên

    Hương lí tài qua như mộng đáo

    Can qua vị tức hạnh thân tuyền

    Hà thời kết ốc vân phong hạ

    Cấp giản phanh trà chẩm thạch miên

    Phỏng dịch:

    Mười năm cách biệt quê nhà

    Chừng về tùng cúc nửa đà xác xơ

    Suối rừng lỗi hẹn thi thơ

    Cúi đầu cát bụi mịt mờ thương thân

    Làng xưa như mộng trong ngần

    Can qua chưa dứt, yên phần mừng thay

    Bao giờ lều cỏ núi mây

    Pha trà nước suối, gối say đá mềm

    -------------------------------

    Chú thích

    (1) Bài thơ tả nghệ thuật Thủy đan thanh trong truyện Côn Luân, tác giả Phượng Ca

    Phân như phách nhứ hành thái không

    Ảnh lạc hàn giang năng vạn biến

    Ngân bình thủ hạ nhưng cưu cao

    Chú thang tác tự thế yểu điệu

    (2) Nhĩ Nhã là quyển tự điển đầu tiên của nhân loại do Chu Công (1100 T.C.N) viết, sau đó được Tử Hạ (500 T.C.N) học trò Khổng Tử san nhuận, và đến đời nhà Hán thì được Quách Phác (276 – 324) viết phần chú thích và chia thành mười sáu phần gồm: nhà cửa kiến trúc,vật dụng, cỏ cây, cầm thú,…

    Nguồn: Trà Kinh - Vũ Thế Ngọc, NXB Văn Nghệ, 1987
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Đình Triển @ 18:00 06/01/2010
    Số lượt xem: 6621
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    XEM TIVI ONILE

    Bảng thử code

    DIỄN ĐÀN VIOLET - VÌ GIÁO VIÊN ĐIỆN TỬ
    TÊN WEBSITE CỦA BẠN

    CÁM ƠN BẠN ĐÃ SỬ DỤNG - CHÚC BẠN HÀI LÒNG !

    Chương trình ứng dụng chính xác cho các loại mã Java Script; HTML. Chúc bạn luôn thành công !