Thuận Thành Quê tôi

Liên kết website

HÁT CHÈO

Lời hay ý đẹp

""

Me nu thư viện

Đồng hồ

Liên kết website

Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

Xem ngày tốt xấu

Clip Bài hát hay

Điểm tin hàng ngày

Liên kết online

Thành viên trực tuyến

0 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Chào mừng quý vị đến với Website HỒN VIỆT.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > Văn hóa, lịch sử, phong tục > Danh nhân đất Việt >

    Huyền Quang - Thiền sư thi sĩ

    Huyền Quang thiền sư 玄光禪師 (hay Huyền Quang tôn giả, 1254-1334) tên thật là Lý Ðạo Tái 李道載 (có sách chép Trần Ðạo Tái, Lý Tái Ðạo), người hương Vạn Tải, châu Nam Sách, lộ Lạng Giang, nay là xã Thái Bảo, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Ông sinh năm Giáp Dần (1254), mất ngày 23 tháng Giêng năm Giáp Tuất (1334).  

    Theo "Tổ gia thực lục" trong "Tam tổ thực lục" thì từ nhỏ ông đã có khiếu văn chương, tư chất thông minh, hiếu học; năm hai mươi tuổi, ông đỗ thi hương rồi năm sau đỗ đầu thi hội (1274). Được bổ dụng vào Viện nội hàn, từng tiếp sứ Bắc, rất nổi tiếng về thơ văn. Nhưng không bao lâu ông một mực xin từ chức đi tu. Được người đứng đầu dòng Thiền Trúc lâm lúc bấy giờ là Trần Nhân Tông rất quý mến, giao cho Pháp Loa hướng dẫn. Về sau ông trở thành vị tổ thứ ba của dòng thiền Trúc Lâm. 

    Ngày 23 tháng giêng năm giáp tuất (1334) Huyền Quang viên tịch tại chùa Côn Sơn, nhân dân vô cùng thương tiếc, vua Trần Minh Tôn đã ban tiền để xây tháp, cấp 150 mẫu ruộng để làm tư điền và đặt tên kèm cho sư là Trúc Lâm thiền sư đệ tam đại, đặc phong pháp tự Huyền Quang tôn giả. Ông vừa là một Đại Thiền sư vừa là một nhà thơ lớn của dân tộc. Ông còn 24 bài thơ chữ Hán chép trong “ Việt Âm thi tập” và “Toàn Việt thi lục”…Sau Trúc Lâm Đầu Đà Trần Nhân Tông và  Pháp Loa, ông được phong tổ thứ ba của Thiền phái Trúc Lâm.

    Huyền Quang là một nhà sư đồng thời là một thi sĩ nổi tiếng đời Trần. Thơ ông rất đậm chất trữ tình. Các nhà phê bình đời trước như Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú đều khen thơ ông "ý tinh tế, cao siêu", "lời bay bướm, phóng khoáng". Có lẽ con người thi nhân trong ông rõ nét hơn con người tôn giáo. Xung quanh thân thế ông có nhiều giai thoại khá hấp dẫn, đã trở thành những câu chuyện dân gian được lưu truyền rộng rãi, và cũng đã từng được nhà văn đương thời ghi lại dưới hình thức một truyện truyền kỳ, lý thú, đi vào kho sách vở nhà Phật từ nhiều thế kỷ nay. 

    Tác phẩm hiện còn 24 bài thơ, trong số đó có bài "Xuân nhật tức sự" gần đây được xác minh là thơ thiền đời Tống, một bài phú Nôm, sách vở cũ cho biết ông còn có các tác phẩm "Chư phẩm kính", "Công văn tập", thư từ tiếp sứ và tập thơ "Ngọc tiên tập" nhưng nay đều đã thất lạc. 

    Tương truyền, dung mạo ông xấu xí lại thêm cảnh nghèo khó, nên ông thường bị người đời hắt hủi, cả việc đi hỏi vợ nhiều nơi vẫn không thành. Nhờ tư chất thông minh, hiếu học; năm 20 tuổi, ông đỗ thi hương rồi năm sau đỗ đầu thi hội (theo Đăng khoa lục, Huyền Quang đỗ tiến sĩ năm Bảo Phù thứ hai, 1274). Đến lúc ấy, nhiều gia đình mới lân la để gả con, nhưng ông đều từ chối. Vì thế, một số sách còn chép ông chính là tác giả câu thơ nôm cảm khái về nhân tình thái thế khá chua chát sau đây:

    Khó khăn thì chẳng ai nhìn, 
    Đến khi đỗ trạng, tám nghìn nhân duyên.

    1. Huyền Quang với sự suy thoái của Phật giáo Trúc Lâm: 

    Phật giáo Trúc Lâm (PGTL) có thể coi là trang sử sáng chói trong lịch sử Phật giáo Việt Nam. Do các vị Tổ sáng lập ra nó đã cố gắng Việt hoá các triết lý của Phật giáo thiền tông từ nhiều nơi khác đến. Không những PGTL đã loại bỏ những tư tưởng rối rắm, bi quan, thần bí... vốn có của các phái Thiền du nhập vào Việt Nam mà PGTL còn làm được vai trò đoàn kết dân tộc trong hai cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên –Mông. PGTL cũng đã có tác động không nhỏ cho sự phát triển nhiều mặt của xã hội, trong đó đặc biệt là sự phát triển của văn hoá Phật giáo đương thời: thơ ca, kiến trúc, đúc tượng, in ấn, hội hoạ  vv... 

    Tuy nhiên, thật  đáng tiếc mọi chuyện không được suôn sẻ mãi. Vào giữa thế kỷ XIV, bấy giờ tầng lớp ủng hộ PGTL là quí tộc nhà Trần đã mất dần uy lực chính trị và kinh tế. Họ lại thường lợi dụng danh nghĩa tôn giáo để quyên góp, vơ vét, bắt dân làm nô dịch... Một phần họ làm của riêng; một phần dùng để xây chùa, đúc tượng và lập vô số điền trang rộng lớn cho nhà chùa. Đâu chỉ có vậy, số tăng lữ mỗi ngày một đông mà người thực tu thì quá ít, dẫn đến việc biếng nhác, bè phái, sử dụng bùa chú...hòng mua danh,trục lợi... 

    Tất cả những vấn đề đó đã làm ảnh hưởng đến vai trò, uy tín của đạo Phật nói chung và Thiền phái Trúc Lâm nói riêng; đến sự phát triển chung của đất nước vừa mới yên bình. Bên cạnh đó, các quan lại xuất thân từ Nho học, đại diện cho tầng lớp cấp thấp, bắt đầu nắm giữ các vị trí quan trọng trong bộ máy nhà nước. Từ thực trạng ảnh hưởng của Phật giáo với xã hội bấy giờ, nhiều nhà nho như Mạc Đỉnh Chi, Trương Hán Siêu, Lê Quát...bắt đầu lớn tiếng công kích Phật giáo. 

    Gánh nặng xã hội Phật giáo đó đó, Pháp Loa đã trao lại cho Huyền Quang, một Thiền sư già 77 tuổi, tuy có học thức, tài hoa, thông kinh kệ... nhưng không phải là người thích hợp cho công việc lãnh đạo giáo hội. Vả lại, thời gian ông tiếp quản và đứng đầu PGTL chỉ có 4 năm ngắn ngủi (1330-1334) rồi viên tịch, nên sự suy thoái của PGTL không hẳn hoàn toàn do lỗi của ông.

    2. Chất thi nhân trong thơ Thiền sư Huyền Quang 

    Như trên đã dẫn, con người thi nhân trong ông có lẽ rõ nét hơn con người tôn giáo. Tuy trước tác của ông còn lưu lại không nhiều, cũng không ít ý kiến cho rằng Huyền Quang là người: Tâm không còn phân biệt Ma-Phật, Mê-Ngộ, Thị phi vv... Nghĩa là lòng đã an tịnh, đã có cái nhìn "vong nhị kiến" với cuộc sống nơi trần thế. Nhận xét như thế không phải không có lý, bởi suy nghĩ ấy của ông đã từng bộc lộ qua bài Diên Hựu tự : 

    延祐寺 

    上方秋夜一鐘闌, 
    月色如波楓樹丹。 
    鴟吻倒眠方鏡冷, 
    塔光雙峙玉尖寒。 
    萬緣不擾城遮俗, 
    半點無憂眼放寬。 
    參透是非平等相, 
    魔宮佛國好生觀。

    Diên Hựu tự 

    Thượng phương du dạ nhất chung lan, 
    Nguyệt sắc như ba phong thụ đan. 
    Si vẫn đảo miên phương kính lãng, 
    Tháp quang song trĩ ngọc tiêm hàn. 
    Vạn duyên bất nhiễu thành già tục, 
    Bán điểm vô ưu nhãn phóng khoan. 
    Tham thấu thị phi bình đẳng tướng, 
    Ma cung Phật quốc hảo sinh quan.


    Chùa Diên Hựu 

    Đêm thu chùa thoảng tiếng chuông tàn, 
    Phong đỏ, trăng ngời, sóng nguyệt lan. 
    In ngược hình chim, gương nước lạnh, 
    Sẫm đôi bóng tháp, ngón tiêu hàn. 
    Muôn duyên chẳng vướng: xa trần tục, 
    Một mảy nào lo: rộng nhãn quan. 
    Thấu hiểu thị phi đều thế cả, 
    Dầu ma dầu Phật, chốn nào hơn. 

    (Huệ Chi dịch)

    Và từ câu chuyện Huyền Quang thăm bệnh Pháp Loa: 

    "Ngày 3/3/1330, Pháp Loa lại phát bệnh nặng. Nửa  đêm trở lại thăm thầy, Huyền Quang nói: 
    - Xưa nay các bậc đạt ngộ khi giờ phút đến, muốn ở lại thì ở, muốn đi cứ ra đi...(cờ gì cứ trăn trở khi viên tịch ?) 

    PL nói: - Đi hay ở cũng đều không can hệ gì tớ ai. 
    HQ: - Vậy thì sao ? 
    PL: - Thì... tuỳ xứ tát-bà-ha! (Cuối câu niệm Phật, phiên âm tiếng Phạn, có nghĩa khéo nói như thế 
    Câu trả lời làm Huyền Quang hả dạ..." 

    Những tư tưởng ấy đã cho thấy Huyền Quang là người có học thức và am tường kinh sách. Những lời lẽ ấy tuy chỉ là những yếu lý cơ bản của triết học thiền tông mà tu sĩ thường thuộc nằm lòng; nhưng nó thấm vào tư tưởng chung của dòng thơ thiền thời Lý Trần mà  những người đi trước như Tuệ Trung, Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông... đã ảnh hưởng tới ông: 

    Thân từ vô tướng vốn là không 
    Huyễn hoá phân ra thành nhị kiến 
    Không tâm, không thị cũng không phi 
    Không kiến, chẳng tà cũng chẳng chánh... 
    (Tuệ Trung) 

    Sinh già bệnh chết 
    Là lẽ đương nhiên 
    Muốn khỏi bốn bệnh 
    Bỏ hết tham luyến... 
    (Khoá hư lục –Trần Thái Tông) 

    Trở lại vấn đề tư tưởng trong thơ Huyền Quang, có thể nói thơ ông ý tứ tinh tế, thầm kín (thơ thiền thường khó lý giải rốt ráo.) Có lẽ một phần cũng vì cuộc đời ông có nhiều trắc trở. Nhìn lại, suốt những năm tháng của tuổi trẻ, Huyền Quang phải sống cảnh nghèo khó, thường bị miệt khinh. Đến khi đỗ Trạng nguyên rồi ra làm quan, chắc gì nơi quan trường nhiều bon chen danh lợi đó không làm cho trái tim ông ít nhiều vết xước. Mặt khác, cũng chính nhờ vào những năm tu luyện với Phật giáo, ông có thể lý giải những gì trăn trở, day dứt... nơi cõi lòng mà ông đã không thể tìm được bằng tư tưởng Nho giáo. Cũng vì thế mà khi tuổi đã 51, ông từ quan để tìm đến chốn cửa Thiền với tâm trạng khá hăm hở. Xin trích một đoạn bài phú nôm ông làm khi mới lên trụ trì ở chùa Hoa Yên: 

    Buông niềm trần tục 
    Náu tới Hoa Yên 
    Chim thuỵ dõi tiếng ca chim thuỵ 
    Gió tiên đưa đòi bước thần tiên 
    Bầu đủng đỉnh giang hoà thế giới 
    Giày thong thả dạo khắp sơn xuyên... 
    Niết được tính ta nên Bụt thật 
    Ngại chi non nước cảnh đường xa 

    (Phú vịnh chùa Hoa yên – Nguyễn Lang  dịch) 

    Hay khi dạo gót đến những chốn thiền môn và những giây phút thanh tịnh trước cảnh vật của tạo hoá: 

    題潢水寺 

    潢水亭邊野草多, 
    空山雨霽夕陽斜。 
    因過輦路投禪室, 
    擁梵敲鐘揀落花

    Đề Đạm Thuỷ tự 

    Đạm Thuỷ đình biên dã thảo đa, 
    Không sơn vũ tễ tịch dương tà. 
    Nhân qua liễn lộ đầu thiền thất, 
    Ủng phạm xao chung giản lạc hoa.


    Đề chùa Đạm Thuỷ 

    Bên đình Đạm Thuỷ nhiều cỏ nội 
    Núi quang, mây tạnh,bóng xế tà 
    Nhân qua con đường vua đi mà vào thiền thất 
    Giúp nhà chùa đánh chuông và nhặt hoa rơi 
    (Nguyễn Đăng Thục dịch) 

    題洞軒檀越假山 

    花木寅緣種作山, 
    籠煙罩月落花寒。 
    從茲念慮都無俗, 
    贏得清風一枕安。

    Đề Động Hiên đàn việt giả sơn 

    Hoa mộc di duyên chủng tác sơn, 
    Lung yên trạo nguyệt, lạc hoa hàn. 
    Tùng tư niệm lự đô vô tục, 
    Doanh đắc thanh phong nhất chẩm an.

    Đề núi non bộ của người đàn việt 

    Hoa cây vấn vít nhau trên bộ 
    Khói lồng trăng, hoa dầm sương lạnh 
    Từ đây sự lo nghĩ sẽ thanh tao hết trần tục 
    Do tìm được chỗ gió mát trong sạch gối đầu nghỉ yên. 
    (Nguyễn Đăng Thục dịch) 

    "Giúp nhà chù đánh chuông và nhặt hoa rơi", "Tìm được chỗ gió mát trong sạch để nghỉ yên". Những việc làm hay thú vui tưởng như nhỏ nhoi, bình dị ấy phải đến cái tuổi 51 ông mới tìm thấy và được tận hưởng ở chốn cửa Thiền. Chính từ tâm trạng vui thích do không còn bị trói buộc, được sống thật với chính mình; Huyền Quang đã có cái nhìn rất thiền, rất thi sĩ đối với thiên nhiên, tạo vật: 

    Tảo Thu (Thu sớm) 

    Hơi mát thâu đêm lọt tới mành 
    Cây sân xào xạc báo thu thanh 
    Bên lều quên bẵng hương vừa tắt, 
    Lưới bủa vầng trăng mấy khóm cành 
    (Nguyễn Đổng Chi dịch) 

    Hay là: 

    Chu Trung (Đi thuyền) 

    Mênh nông theo gió con thuyền nhỏ 
    Thu sáng ngời xanh bóng nước, cây 
    Tiếng sáo thôn chài, lau lách vọng 
    Trăng lặn lòng sông, móc trăng đầy  

    Ngọ thuỵ (Ngủ trưa) 

    Mưa tạnh, khe núi tĩnh 
    Ngủ mát dưới rừng phong 
    Nhìn lại cõi nhân thế 
    Mắt mở vẫn say nồng 
    (Nguyễn Bang dịch) 

    Bên trong con người yêu mến thiên nhiên, khao khát thanh tịnh ấy, vẫn không sao che giấu được một trái tim giàu cảm xúc, nặng tình người: 

    Ai phù lỗ 
    (Thương tên giặc bị bắt)

    Lấy máu đề thư, muốn gửi nhau 
    Cô đơn chiếc nhạn vút mây sầu 
    Bao nhà ngóng nguyệt đêm nay nhỉ, 
    Hai chốn cách vời một nỗi đau 
    (Lịch sử PGVN, Viện triết học) 

    Có lẽ vì vậy trái tim ông rất dễ tổn thương khi bị người đơm đặt, gièm pha (chuyện nàng Điểm Bích là một ví dụ): 

    Cúc hoa (bài 2) 

    Ruột héo mong gì nước rửa tươi 
    Vịnh mai trăm mục cũng nhường thôi 
    Buồn thu, già yếu còn ngâm hão 
    Vì cúc, tình thơ luống rối bời... 

    Do muộn phiền quá đỗi bởi những gì đa đoan cứ bám đuổi, dù ông đã vào chốn thiền môn, cộng thêm ước muốn được tĩnh lặng thường thấy ở tuổi già. Từ Hoa Yên ông lui về Thanh Mai rồi chùa Tư Phúc ở Côn Sơn hẻo lánh, để thổn thức với trời cao và vui buồn cùng  mai, cúc: 

    Mai hoa (Hoa mai) 

    Muốn hỏi trời xanh: Hoa tự đâu 
    Một mình gội tuyết chốn non sâu 
    Bẻ về, không để chưng vừa mắt, 
    Chỉ mượn xuân này đỡ lão đau... 

    (Cảm nhận đạo Phật. Phạm Kế) 

    Cúc Hoa (bài 5)

    Người ở trên lầu, hoa dưới sân 
    Vô ưu ngồi ngắm khói trầm xông 
    Hồn nhiên người với hoa vô biệt, 
    Một đoá hoa vừa mới nở tung 
    (nguyễn Lang  dịch) 

    Năm 1330, vị Tổ thứ hai của thiền phái Trúc Lâm là Pháp Loa viên tịch. Ở tuổi 77, ông phải đến nhận danh vị Tổ kế nghiệp. Tự biết sức mình khó đảm đương trọng trách lớn; ông giao việc  điều hành giáo hội cho Quốc sư An Tâm, rồi một mình nhẹ bước thiền rời nơi đô hội về lại Côn Sơn, làm nhà ẩn cư cho đến hết đời... Huyền Quang thổ lộ: 

    Thạch thất (Nhà đá) 

    Nửa gian nhà đá, bạn cùng mây 
    Tấm áo lông thô, lạnh tháng ngày 
    Sư khểnh giường thiền, kinh trước án 
    Lò tàn, than lụi, sáng nào hay 
    (Huệ Chi dịch) 

    Và: 

    Nhân sự đề Cứu Lan tự 
    (Nhân có việc, đề ở chùa Cứu Lan) 

    Đức bạc thẹn mình nối tổ đăng 
    Học theo Hàn, Thập dứt đa đoan 
    Hãy đi với bạn về non vắng, 
    Rừng núi bao la mấy vạn từng 

    (Hàn Sơn và Thập Đắc là 2 cao tăng ẩn sĩ đời Đường. 
    -Lược sử PGVN - T.T Thích Minh Tuệ) 

    Nói là "học dứt đa đoan" hay cũng như bài thơ dưới đây, HQ nói "quên tất cả": 

    Cúc hoa (bài 3) 

    Quên thân, quên thế, thảy đều quên 
    Thiền toạ ngồi lâu lạnh thắm giường 
    Trong núi năm tàn không có lịch 
    Thấy hoa cúc nở biết Trùng dương 

    Ta vẫn thấy ở ông một thân phận bị xô đẩy, bị sắp đặt nhầm chổ: 


    Cúc hoa (bài 4) 

    Thu về, móc nhẹ, cúc đơm bông 
    Gió mát trăng thanh dịu nỗi lòng 
    Vẻ đẹp tinh khôi người chẳng hiểu 
    Bẻ về cài tóc, đáng cười không ? 
    (Băng Thanh dịch) 

    Việc đời hay chuyện lòng, đâu phải lúc nào chúng cũng thuận theo ý muốn; dẫu ông là Trạng nguyên hay vị Tổ, cũng vậy thôi. Vì lẽ đó, đọc thơ Huyền Quang ta nên chia sẻ cái khao khát, hụt hẫng rồi ngậm ngùi... của một đời thường luôn mong muốn sống tốt đẹp cho đạo và cho mình; hơn là vịn vào vai trò, cách hành xử không thể không làm, rồi nhạo báng hay trách cứ ông... 

    Trước khi kết bài, xin mời đọc thêm: 

    Địa lô tức sự 
    (Trước bếp lò tức cảnh) 

    Củi hết lò còn vương khói nhẹ 
    Sơn đồng hỏi nghĩa một chương kinh 
    Tay cầm dùi mõ, tay nâng sáo 
    Thiên hạ cười ta cứ mặc tình... 
    (Nguyễn Lang  dịch) 

    Và: 

    Thôi đã theo thiền lòng lặng tắt 
    Nỉ non tiếng dế vẫn vì ai ?... 
    (Sơn vũ. Huệ Chi dịch) 

    Và không hiểu sao từ cái hỉnh ảnh "củi hết lò còn vương khói nhẹ...", và những "Phòng tiêu thưở trước từng khoe đẹp, Chùa núi sau này tựa cảnh không" mà thương cho cuộc đời ông, thương cả nàng Điểm Bích ...? Vì đâu ? bất giác bồi hồi... 

    Chỉ ngần ấy câu thơ thôi có lẽ cũng đủ nói lên tư tưởng và quan niệm sống của ông. Đó tâm trạng của một người luôn mong muốn được sống hồn nhiên, hoà mình cùng tạo vật. Của một con người muốn thay đổi số phận nhưng lại gặp một số phận khác cũng không kém não nề... Có thể vì vậy phần lớn thơ ông, ta dễ dàng bắt gặp nỗi khát khao, sầu tư thầm kín. Càng lạ hơn là ta chỉ thấy cái "tinh tế, phóng khoáng"của một Lão Trang mà không hề thấy cái triết lý rối rắm, mơ hồ của nhà Phật mà ông đang là người đứng đầu. Càng không thấy cái thôi thúc muốn bỏ hết tham luyến, muốn "chặt hết sắn bìm" để dứt niệm, kiến tánh, thành Phật vv...như các thiền sư khác vào thời Lý Trần.

    Xuân Ất Mùi 2015


    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Đình Triển @ 06:57 04/01/2015
    Số lượt xem: 556
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    XEM TIVI ONILE

    Bảng thử code

    DIỄN ĐÀN VIOLET - VÌ GIÁO VIÊN ĐIỆN TỬ
    TÊN WEBSITE CỦA BẠN

    CÁM ƠN BẠN ĐÃ SỬ DỤNG - CHÚC BẠN HÀI LÒNG !

    Chương trình ứng dụng chính xác cho các loại mã Java Script; HTML. Chúc bạn luôn thành công !